Thứ Bảy, 5 tháng 11, 2016

Nghề làm khám ở Phú Quý - Bình Thuận

Ở Phú Quý, mười nhà thì chín nhà có khám bởi người dân tin rằng: bên trong mỗi chiếc khám thờ có những điều thiêng liêng, giúp họ đánh bắt được nhiều hải sản, qua được sóng to, gió lớn trên biển…

Khám thờ

Chúng ta dễ bắt gặp khám thờ trong những ngôi nhà cổ xưa có thiết kế dạng 3 gian 2 chái ở Phú Quý. Khám được làm bằng gỗ, một số ít làm bằng xi măng. Một khám thờ ở Phú Quý đầy đủ thường được gọi là khám thờ kép. Ở phía mặt trước và trên cùng gọi là tấm mày. Mày được khắc 2 con rồng đối xứng  nhau. Bên dưới mày là chân quỳ, chạm khắc hoa văn tượng trưng cho tứ quý (tươi đẹp bốn mùa) và dễ thấy nhất là 2 trụ long đăng ở hai bên, tượng trưng cho 2 cột nhà. Từ trên xuống dưới của long đăng, chạm trổ hình rồng uốn lượn ôm lấy thân trụ, tiếp theo là các khung tà, bao gồm khung tà trước, khung tà giữa và khung tà sau. Phần ngoài cùng hai bên gọi là cánh quạt, người ta chạm trổ các hình ảnh, hoa văn của 4 con vật: “Long, lân, quy, phụng”… ngoài ra các góc cạnh của khám còn được trang trí, chạm trổ cũng rất công phu.

 “Tổ đường” hoặc  “Phước đường”

Khám thờ có 2 tầng, tầng trên thờ các vị thần phù hộ cho gia đình bình an, tầng dưới  thờ ông bà, tổ tiên.  Điều rất quan trọng ở phần dưới, người ta khắc 2 chữ Hán cỡ lớn để khi nhìn vào phân biệt nhà trưởng nam hay thứ nam. Nhà trưởng nam thường khắc 2 chữ  “tổ đường”, còn nếu nhà thứ nam thì có chữ “phước đường”.

Nghệ nhân làm khám thờ

Trên  đảo có 3 cơ sở làm khám thờ. Người làm lâu năm, tay nghề thuộc loại “tên tuổi” là ông Trần Thiện Nghiệp (47 tuổi), trú tại thôn Đông Hải, xã Long Hải. Ông cho biết “Tôi là đời thứ 3 kế thừa nghề này của dòng họ. Nhờ nghề mà có thu nhập, con cái được học hành đến nơi đến chốn”.

Người làm nghề phải sáng tạo, tỉ mỉ, ngoài việc biết chạm trổ các hoa văn, đòi hỏi phải biết phối màu sơn... Hiện nay để có được một chiếc khám thờ hoành tráng trong gia đình, người có nhu cầu phải bỏ ra khoảng 20 triệu đồng. “Mọi hoa văn, hình vẽ rồng, phụng trên mặt khám không có khuôn mẫu sẵn, đòi hỏi người làm nghề phải nhiều kinh nghiệm mới thực hiện được”.

Khám thờ của người Phú Quý là nét đẹp văn hóa của một vùng đảo. Người làm khám thờ cũng là một nghệ nhân điêu khắc.



4 đặc sản nổi tiếng tỉnh Bình Thuận được xác lập kỷ lục Việt Nam

Nhờ yếu tố tự nhiên và con người, Bình Thuận có nhiều đặc sản nổi tiếng, có giá trị kinh tế cao, được nhiều người trong nước và du khách nước ngoài biết đến. Năm 2012, lần đầu tiên tỉnh Bình Thuận được Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam (nơi công nhận các kỷ lục của Việt Nam) và Trung tâm sách TOP Việt Nam công nhận 02 đặc sản nổi tiếng: Thanh long Bình Thuận (được công nhận là 01 trong 50 đặc sản trái cây nổi tiếng nhất của Việt Nam) và Lẩu thả Bình Thuận (được công nhận là 01 trong 50 đặc sản món ăn nổi tiếng nhất của Việt Nam).

 
 Nhằm tiếp tục góp phần tôn vinh những giá trị, quảng bá hình ảnh Bình Thuận thể hiện qua các món ăn ẩm thực, đặc sản từng vùng miền của tỉnh để giới thiệu đến mọi người dân, du khách trong nước và quốc tế, đồng thời góp phần phục vụ cho công tác xúc tiến thương mại, thúc đẩy ngành nông nghiệp, công nghiệp chế biến, xúc tiến du lịch của tỉnh. Ngày 08/5/2013, Sở Khoa học và Công nghệ đã phối hợp với các sở, ngành và UBND các huyện, thị xã, thành phố tham mưu UBND tỉnh đề cử 11 đặc sản nổi tiếng của Bình Thuận tham gia vào hành trình TOP Đặc sản Việt Nam lần thứ hai – năm 2013. Gồm các đặc sản: Nước mắm Phan Thiết, Bánh xèo Phan Thiết, Bánh căn Phan Thiết, Bánh canh chả cá Phan Thiết, Cốm Phan Thiết, Mực một nắng Phan Thiết, Bánh tráng cuốn mắm ruốc Phan Thiết, Gỏi cá mai Phan Thiết, Bánh hỏi lòng heo Phú Long (Hàm Thuận Bắc), các món ăn chế biến từ dông Bình Thuận, Gỏi ốc giác.

Năm 2013, nhiều địa phương trong cả nước hưởng ứng tham gia đề cử hàng trăm đặc sản tham gia Hành trình TOP đặc sản Việt Nam. Sau thời gian bầu chọn, tháng 12/2013 Ban tổ chức Hành trình TOP đặc sản Việt Nam (Tổ chức Kỷ lục Việt Nam) đã có thông báo công nhận Bình Thuận có 4 đặc sản được xác lập kỷ lục Việt Nam. Theo đó: Top 50 đặc sản quà tặng Việt Nam lần thứ nhất năm 2013 theo Bộ tiêu chí công bố giá trị đặc sản Việt Nam có Mực một nắng Bình Thuận và nước mắm Phan Thiết được công nhận. Bánh canh chả cá Phan Thiết và bánh căn Phan Thiết được công nhận vào Top 50 món ăn đặc sản nổi tiếng Việt Nam lần thứ hai năm 2013 theo Bộ tiêu chí công bố giá trị đặc sản Việt Nam.

 

Ngày 22/3/2014, Tổ chức kỷ lục Việt Nam đã trao 4 xác lập kỷ lục Việt Nam: Mực một nắng Bình Thuận, nước mắm Phan Thiết, bánh canh chả cá Phan Thiết và bánh căn Phan Thiết cho UBND tỉnh Bình Thuận.


Để quảng bá rộng rãi thông tin, hình ảnh 4 đặc sản nổi tiếng của tỉnh Bình Thuận đã được xác lập kỷ lục Việt Nam đến mọi người dân, du khách trong nước và quốc tế. Ngày 14/5/2014, tại Hội thảo kỷ niệm Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam, UBND tỉnh Bình Thuận đã tổ chức trao lại cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bình Thuận 4 xác lập trên. Đồng thời đề nghị Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bình Thuận có trách nhiệm quảng bá thông tin, hình ảnh của các đặc sản nổi tiếng được xác lập kỷ lục Việt Nam trong các năm qua nhằm góp phần thúc đẩy kinh tế Bình Thuận ngày càng phát triển.



Thứ Sáu, 4 tháng 11, 2016

Di tích lịch sử văn hoá Bình Thuận

1. Tháp Pôshanư


Nhóm đền tháp Chăm Pôshanư được người Chăm xây dựng từ những cuối thế kỷ VIII đầu thế kỷ IX để thờ vị thần Shiva - một trong những vị thần Ấn Độ giáo được sùng bái và tôn kính. Thế kỷ 15, xây dựng thêm một số đền thờ với kiến trúc đơn giản để thờ công chúa Pôshanư. Công chúa Pôshanư (con vua ParaChanh) là người có tài đức và phép ứng xử nên được người Chăm đương thời yêu quý. Năm 1992-1995, những cuộc khai quật khảo cổ tại nơi này đã phát hiện ra nhiều nền móng của những ngôi đền bị sụp đổ và bị vùi lấp hàng trăm năm nay, cùng với gạch ngói và một số hiện vật trong lòng các đền tháp có niên đại từ thế kỷ 15. Từ đây tháp có tên gọi là Pôshanư.

 

Nhóm tháp này có phong cách kiến trúc Hòa Lai - một trong những phong cách nghệ thuật cổ của Chămpa. Tuy chỉ có kích thước vừa và nhỏ, nhưng nó chắt lọc được những tinh hoa kỹ thuật kiến trúc và nghệ thuật trang trí của người Chăm xưa tạo nên vẻ uy nghiêm và kỳ bí. Nhóm đền tháp Pôshanư là một trong những cụm tháp Chăm còn tương đối nguyên vẹn.

Nhóm tháp gồm có 3 tháp : Tháp chính A hơi nhếch về phía Nam, hai tháp phụ là B hơi nhếch về phiá Bắc và C nhếch về hướng Đông cạnh tháp A. Nội dung của việc xây dựng nhóm tháp trong giai đoạn lịch sử này để thờ thần Shiva ( một trong những vị thần Ấn độ giáo được người Chăm sùng bái, tôn kính) biểu hiện bằng bệ thờ Linga-Yôni bằng đá hiện còn lưu giữ tại tháp chính. Đến thế kỷ XV người Chăm tiếp tục xây dựng một số đền thờ dạng kiến trúc đơn giản để thờ công chúa Pôshanư, tương truyền là con vua ParaChanh được nhân dân yếu quý về tài đức và phép ứng xử của Bà đối với người Chăm đương thời. Những cuộc khai quật khảo cổ học từ 1992-1995 đã phát hiện nhiền nền móng của những ngôi đền bị sụp đổ và bị vùi lấp hàng trăm năm nay, cùng với gạch ngói và một số hiện vật trong lòng các đền tháp có niên đại từ thế kỷ XV. Từ đây tháp có tên gọi là Pôshanư.

Pôshanư là nhòm đền tháp Chăm có vai trò quan trọng trong số các di tích kiến trúc Chăm ở Bình Thuận, từ hình dạng kiến trúc đến kỹ thuật xây dựng và trang trí nghệ thuật trên thân tháp, các vòm cuốn, các cửa chính, cửa giả, trong lòng và lên đến đỉnh tháp. Riêng kỹ thuật xây dựng và trang trí nghệ thuật còn lại ở thân Tháp đủ gợi lên yếu tố thẩm mỹ khá riêng biệt của phong cách Hoà Lai.

Tháp chính A từ trong lòng tháp lên đến Đỉnh 15 m, cạnh đáy mỗi bề gần 20m, một cửa chính dài, hướng về phía đông mà theo truyền thuyết Chăm hướng Đông là nơi cư ngụ của thàn linh. Có 3 cửa giá ở những hướng Bắc, Tây, Nam. Trên vòm cuốn ở hướng Tây hiện còn những dãy chạm khắc dày đặc với những bông hoa và hình tượng kỳ lạ. Tháp có 4 tầng càng lên cao càng thu nhỏ lại và bớt đi những yếu tố kiến trúc của tầng dưới. Trên đỉnh tháp có 4 cửa sổ hình tam giác hướng về 4 phía, bên ngoài xây bít kín, dưới mỗi cửa sổ gạch có 4 lỗ lớn để thông gió ra ngoài.

Tháp B nằm riêng nhích về hướng Bắc cao khoảng 12m, về cơ bản hình dáng kiến trúc giống tháp A nhưng đơn giản hơn. Trước đây trong tháp có thờ con bò thần Namdin nhưng sau đó không thấy nữa . Năm 1995 lúc khai quật dưới lòng đất đã tìm thấy 1 bàn chân và 1 tai bò thần bằng đá. Tháp C hiện chỉ còn lại với 1 chiều cao hơn 4m, duy nhất 1 cửa trổ về hướng Đông những kiến trúc và trang trí nghệ thuật bên ngoài đã bị thời gian bào mòn chỉ còn lại một số đường nét gốc.

So với những tháp Chăm khác, đến nay di tích này hàng năm vẫn có đông đảo người Chăm từ các vùng lân cận đến làm lễ cầu mưa và những nghi lễ khác liên quan đến phong tục tập quán của họ,. Một điều khá lý thú nữa là đối với ngư dân những vùng lân cận trước khi đi biển cũng đến đây cầu xin cho những chuyến đi biển được bình yên.

Nhóm đền tháp Chăm Pôshanư đã được tu bổ, tôn tạo từ 1990-2000 và hiện nay đã hoàn chỉnh việc tu bổ di tích. Di tích này đã được Nhà nước xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia năm 1991.

2. Dinh Vạn Thủy Tú - Phan Thiết


Cuối thế kỷ XVII, những ngư dân lao động của các tỉnh miền Trung lần lượt đổ bộ lên khai phá vùng đất mới còn lắm hoang vu Phan Thiết - Bình Thuận. Họ mong tránh cảnh loạn lạc, khốn cùng ở miền quê cũ, tìm được một chốn an cư lạc nghiệp lâu dài.
Sử sách và dân gian thường gọi là: “Ngũ Quảng lưu dân” (Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Thuận, Quảng Nam, Quảng Ngãi). Theo truyền thống ở miền quê cũ, họ lập ra ở ven biển các Vạn nghề cá (Vạn Chài) theo từng nhóm dân cư tập trung trước khi có chính quyền làng xã. Một trong những vạn chài ấy có tên Thủy Tú bởi nằm bên cửa biển Phan Thiết trù phú, đẹp giàu (Thủy là nước, Tú là màu mỡ, nhiều sản vật, Thủy Tú nói lên vùng biển giàu đẹp).

Cùng với lập Vạn ổn định dân cư ăn ở, Vạn nào cũng xây dinh để thờ thần Nam Hải. Từ xa xưa, theo tín ngưỡng của ngư dân Cá Voi được tôn làm Ông Nam Hải hay Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân Tôn Thần. Bởi khi trời giông bão, sóng to gió lớn, Ông đã tựa vào thuyền, che chắn cho thuyền không bị sóng gió nhận chìm. Khi Ông lụy (chết), làng Vạn làm tang lễ, thờ tự ở Dinh, như câu hát Bã Trạo truyền từ đời này sang đời khác:



Khôn phò nghĩa khí ai bì
Sống chơi biển Thánh, chết quy non thần.

Dinh Vạn Thủy Tú tọa lạc trên đường Ngư Ông, thuộc phường Đức Thắng, thành phố Phan Thiết. Con đường ngày nay và bến cá trước đây mang tên Ngư Ông thể hiện ý nghĩa lịch sử gắn bó giữa Ông Nam Hải với ngư nghiệp địa phương: niềm tôn kính của ngư dân cũng như niềm tin vào sự phù trợ của ông Nam Hải. Lịch sử hình thành Vạn Thủy Tú gắn liền với lịch sử hình thành thành phố Phan Thiết và tỉnh Bình Thuận của lớp ngư dân đầu tiên vào khai phá xây dựng nên một vùng biển “trên bến dưới thuyền” với ngành nghề truyền đánh bắt hải sản và chế biến nước mắm truyền thống nổi tiếng xưa nay.

Dinh Vạn Thủy Tú là một trong những Dinh Vạn lớn và cổ xưa nhất của nghề biển ở Bình Thuận. Dinh được thiết kế từ năm Nhâm Ngọ (1762) với Chính Điện, nhà Tiền Vãng và phía trước là Võ Ca. Trung tâm Chính Điện đặt khám thờ Thần Nam Hải. Bên tả khám thờ Ông Thủy (ông tổ nghề biển), bên hữu thờ Bà Thủy. Phía sau Chánh điện là nhà Tiền Vãng thờ các bậc tiền hiền, hậu hiền – những người có công khai phá dựng Làng, lập Vạn. Phía trước là nhà Võ Ca, nơi để hát bội và diễn Bã Trạo trong những kỳ tế lễ. Trong năm Vạn có năm kỳ Lệ cúng: Lệ Tế Xuân (20.02 ÂL) Lệ Hạ Nghệ (xuống nghề, cầu ngư đầu mùa 20.04.ÂL), Lệ Tế Thu (còn gọi là Lệ cúng của các chèo dọc 20.07 ÂL) và Lệ Mãn Mùa (25.08 ÂL). Ở mỗi Lệ cúng, bà con tổ chức lễ với những nghi thức cúng tế trang trọng và hội với hát bội, diễn bã trạo, giao lưu trao đổi công việc làm ăn; ngoài ra còn tổ chức đua ghe giữa các Vạn, như câu ca xưa còn truyền lại:

Dưới sông sắp đặt ghe đua
Trên bờ sửa soạn Miếu Chùa Trạo ca

Việc thờ tự, cúng tế, Lễ hội ở Vạn hướng con người về với cội nguồn, với Tổ quốc, với Tổ nghề và thắt chặt tình ái hữu tương tế.
Về giá trị kiến trúc, Dinh Vạn Thủy Tú sử dụng lối kiến trúc “Tứ Trụ”. Toàn bộ các vì kèo, rường cột, các gian đều xuất phát từ đỉnh các tứ trụ; hệ thống kết cấu gỗ đều được chọn các loại gỗ quý, các chi tiết được lắp ghép trau chuốt, chạm khắc tỉ mỉ. Đến nay so với hàng chục ngôi Vạn thờ Hải Thần dọc bờ biển Bình Thuận thì Dinh Vạn Thủy Tú có kiến trúc cổ còn giữ nguyên trạng.Trong Dinh còn lưu giữ 24 sắc phong của các vua Triều Nguyễn; lưu giữ nhiều di sản văn hóa Hán - Nôm liên quan đến nghề biển, thể hiện trong nội dung thờ phụng ở các khám tờ, tượng thờ, hoành phi, câu đối trên văn chuông Đại Hồng Chung…

Ngọc Lân thánh địa và nhà trưng bày bộ cốt ông Nam Hải

Đến tham quan Dinh Vạn Thủy Tú, qua cổng tam quan về phía tả là Ngọc Lân Thánh Địa, về phía hữu là nhà trưng bày cốt Ông Nam Hải, trước khi vào viếng dinh chính.

 

Theo phong tục tập quán khi phát hiện Ông lụy làng Vạn phải tổ chức đưa Ông lên bờ và tiến hành nghi thức tang lễ thỉnh linh hồn Ông nhập Vạn, chọn ngày giờ tốt để mai táng. Trước Dinh Vạn Thủy Tú có một khu đất rộng để mai táng Ông, gọi là Ngọc Lân Thánh Địa.Sau 3 năm mãn tang, thỉnh cốt Ông nhập tẩm trong Dinh Vạn. Qua 200 năm, Vạn Thủy Tú đã có 3 tẩm với trên 100 bộ cốt Ông được lưu thờ, trong đó có hàng chục bộ cốt lớn, đặc biệt có một bộ rất lớn.

Truyền thuyết dân gian kể lại rằng: sau khi xây xong Dinh Vạn có một Ông lớn trôi dạt vào bờ phía trước Dinh (lúc này biển chỉ còn cách Dinh không đầy 50 mét). Ngư dân trong bổn Vạn huy động thêm ngư dân các làng Vạn khác cùng nhau đưa Ông vào táng trong khuôn viên của Dinh Vạn Thủy Tú. Vì Ông lớn quá (dài hơn 20m, nặng hàng chục tấn) nên mãi hai ngày sau mới đưa vào mai táng được.

 

Năm 2003 theo nguyện vọng của bà con ngư dân và nhu cầu của khách thăm quan, cũng như phục vụ cho công tác nghiên cứu văn hóa - khoa học, Ủy ban nhân dân thành phố Phan Thiết đã đầu tư xây dựng Nhà trưng bày và phục chế lắp ráp bộ cốt Ông lớn nhất nhằm giữ gìn và bảo quản tốt hơn, tạo thuận lợi cho bà con ngư dân đến viếng và khách đến tham quan, các nhà khoa học đến nghiên cứu.Được sự trợ giúp của Phòng Bảo tồn - Viện Hải Dương học Nha Trang, công trình đã được khánh thành vào đúng dịp Lễ hội Cầu Ngư đầu mùa ngày 20.04 năm Quý Mùi (2003). Qua lưu thờ, bảo quản của nhân dân, bộ cốt Ông hầu như còn nguyên vẹn và được xác định là bộ cốt Ông lớn nhất Việt Nam và cả vùng Đông Nam Á.


3. Trường Dục Thanh


Dục Thanh (viết tắt của: Giáo Dục Thanh Thiếu Niên) là một ngôi trường ở thành phố Phan Thiết (tỉnh Bình Thuận) mà Nguyễn Tất Thành (sau này là Hồ Chí Minh) đã từng dạy học ở đó.
Trường Dục Thanh là một cơ sở của Công ty Liên Thành - một tổ chức yêu nước nổi tiếng được thành lập hồi đầu thế kỷ 20 gồm ba bộ phận với ba chức năng:
Liên Thành Thương quán: làm kinh tế gây quỹ hoạt động
Liên Thành Thư xã: tuyên truyền và truyền bá các sách báo có nội dung yêu nước
Dục Thanh Học hiệu: mở trường dạy cho con em người yêu nước và lao động nghèo theo nội dung yêu nước và tiến bộ
Do các nhà chí sĩ Nguyễn Trọng Lội, Nguyễn Quý Anh (là hai con trai nhà thơ Nguyễn Thông), Trương Gia Mô, Hồ Tá Bang, Nguyễn Hiệt Chi, Trần Lệ Chất sáng lập ở Phan Thiết, nhằm hưởng ứng phong trào Duy Tân mà Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng khởi xướng tại Trung Kỳ.

Công ty Liên Thành hoạt động có hiệu quả, bí mật đóng góp một phần tài chính cho phong trào Đông Du của Phan Bội Châu. Liên Thành thư xã do Nguyễn Hiệt Chi phụ trách mời nhiều diễn giả đến diễn thuyết, trong đó có Phan Châu Trinh, gây được tiếng vang sôi nổi. Đặc biệt Dục Thanh học hiệu đã đào tạo được một lớp trẻ học tập theo sách vở và tinh thần mới.
Trường Dục Thanh được xây dựng năm 1907(cùng năm xây dựng với trường Đông Kinh Nghĩa Thục) nằm ở làng Thành Đức (ngày nay là nhà số 39 phố Trưng Nhị, phường Đức Nghĩa, Phan Thiết.

Năm 1910, Nguyễn Tất Thành được ông nghè Trương Gia Mô giới thiệu, đã đến Phan Thiết dạy học tại ngôi trường này. Lúc ấy, trường có khoảng 60 học sinh và 7 thầy giáo giảng dạy các bộ môn: Hán văn, Pháp văn, thể dục... Một trong những học sinh của trường là Nguyễn Kinh Chi con cụ Nguyễn Hiệt Chi, về sau là Bác sĩ, Thứ trưởng Bộ Y tế Việt Nam dân chủ cộng hòa, đại biểu Quốc hội khóa I - IV, là học trò trực tiếp của thầy Nguyễn Tất Thành. Nguyễn Tất Thành dạy lớp nhì, chủ yếu là dạy Chữ Quốc ngữ và Hán văn. Trong thời gian này, ngoài những nội dung được phân công giảng dạy, Nguyễn Tất Thành còn truyền bá lòng yêu quê hương đất nước, nòi giống tổ tiên cho học sinh. Trong những giờ học ngoại khóa hay những lúc rảnh, Nguyễn Tất Thành còn dẫn học sinh của mình du ngoạn cảnh đẹp ở Phan Thiết như bãi biển Thương Chánh, động làng Thiềng, Đình làng Đức Nghĩa.

Tháng 2 năm 1911, Nguyễn Tất Thành rời trường Dục Thanh và Phan Thiết vào Sài Gòn.

Một vài năm sau, ông Nguyễn Trọng Lội qua đời, ông Nguyễn Quý Anh chuyển vào Sài Gòn, không còn ai phụ trách và vì nhiều lý do khách quan khác nên trường đóng cửa vào năm 1912, nhưng Công ty Liên Thành thì vẫn hoạt động mãi đến sau này. Hiện di tích Trường Dục Thanh và Công ty Liên Thành ở thành phố Phan Thiết đã được tỉnh Bình Thuận tôn tạo, bảo quản giữ gìn, là một địa điểm văn hóa du lịch của cả nước.

4. Kê Gà - Ngọn hải đăng trăm tuổi 


Ngọn hải đăng trăm tuổi trên đảo Kê Gà sừng sững giữa biển khơi đang là điểm đến hấp dẫn đối với du khách đến Bình Thuận. Đứng trên ban-công ở đỉnh hải đăng, phong cảnh một vùng biển mở ra trước mắt du khách đẹp đến sững sờ, bởi hiếm có dịp được “chiêm ngưỡng” vẻ đẹp của biển ở góc nhìn này...

Từ TP Phan Thiết (Bình Thuận) đi xe gắn máy hoặc xe buýt dọc theo bờ biển phía Nam khoảng 25 km là đến địa điểm có ngọn hải đăng trăm tuổi này. Hải đăng Kê Gà (có người gọi Khe Gà) nằm trên hòn đảo nhỏ, cách bờ biển khoảng 500 mét. Lúc nước ròng, có thể đi bộ ra đảo. Trên bản đồ địa lý Việt Nam, người Pháp ghi tên đảo là Kéga.

Vùng biển này thường xuyên có tàu thuyền đi ngang, nhất là tàu buôn nước ngoài. Ở vị trí hiểm trở, nhiều bãi đá ngầm, người Pháp đã cho xây dựng ngọn hải đăng tại đây để dẫn đường tàu thuyền đánh cá, cảnh báo nguy hiểm đối với tàu buôn. Kỹ sư người Pháp tên là Chnavat là người thiết kế công trình này. Khởi công xây dựng vào tháng 2-1897, đến cuối năm 1898 hải đăng mới hoàn thành và đưa vào hoạt động vào năm 1900- đến nay đã 108 năm.

Tháp hải đăng hình bát giác được xây trên đỉnh cao nhất của đảo. Tại tháp đèn có những ô cửa kính dày bao bọc 2 bóng đèn có công suất 2000w, xoay được 360 độ. Nhìn từ xa 10km lúc trời trong, du khách đã nhìn thấy ngọn hải đăng. Ban đêm, ánh đèn của nó chiếu sáng đến 22 hải lý.

Lối dẫn vào hải đăng là những bậc thang bằng bê tông, hai bên trồng hàng hoa sứ cổ. Người dân ở đây cho rằng những cây sứ này được trồng ngay sau khi ngọn hải đăng được dựng lên nên gốc sứ nào cũng to lớn. Vào bên trong hải đăng, du khách phải bước lên 184 bậc thang xoắn trôn ốc để lên đỉnh. Tại đây, một ban-công rộng rãi mở ra để du khách đứng nhìn biển xanh bao la. Những khu nghỉ dưỡng, bãi đá, bờ biển... trải dài hàng chục cây số đều được thu gọn vào tầm mắt. Những mệt mỏi sau khi đi bộ lên các bậc thang cao 54 mét sẽ được xua tan bởi cảnh đẹp của thiên nhiên và làn gió biển mát rượi khiến du khách cảm thấy phấn chấn. Thời điểm lý tưởng nhất trong ngày để lên đỉnh Kê Gà là lúc hoàng hôn. Nhưng những người mê biển thì sẽ ở lại đảo qua đêm để câu cá, ngắm ánh trăng vằng vặc vào ban đêm bên ngọn lửa hồng và ngắm nhìn bình minh hùng vĩ hiện dần trên mặt biển...

 

Dù đã có từ rất lâu nhưng hải đăng Kê Gà chưa được nhiều người biết đến. Phần lớn du khách đến Phan Thiết đi thẳng ra Mũi Né nhưng từ khi Mũi Né bị bao vây bởi hệ thống các khu nghỉ dưỡng, nhà hàng, khách sạn thì những người yêu thiên nhiên miền biển đi tìm những điểm dừng chân mới. Cuộc đổ bộ của du khách và nhà đầu tư vào phía Nam Phan Thiết bắt đầu từ đó. Nơi đâu, những khu nghỉ dưỡng cũng đã mọc lên nhưng có kiến trúc rất tôn trọng thiên nhiên, tạo nên sự hài hòa giữa người và biển.

Việc đưa người ra ngọn hải đăng tham quan hiện nay chưa nằm trong tua tuyến mà chủ yếu do người dân địa phương làm theo kiểu tự phát. Lên xuống tàu để ra hải đăng và trở lại đất liền không được thuận tiện, nhất là đối với người lớn tuổi. Hai đầu bến vẫn chưa có cầu tàu. Du khách phải xắn quần lội nước để leo lên tàu... Hy vọng một ngày gần đây, ngành du lịch Bình Thuận sẽ đưa đảo Kê Gà vào danh sách điểm du lịch tạo điều kiện cho du khách muốn khám phá ngọn hải đăng trăm tuổi...


Sở VHTTDL Bình Thuận

Tiềm năng tài nguyên thiên nhiên tỉnh Bình Thuận

1. Du lịch:


Chiều dài bờ biển 192 km, nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp như: Mũi Né, Mũi Kê gà, Núi Tà Cú, Bàu Trắng, Gành son. Nhiều điểm di tích văn hoá, lịch sử nổi tiếng như: Tháp Chăm Poshanư, Chùa núi Tà Cú, Dinh Thầy Thím, Cổ Thạch Tự, Di tích Dục Thanh. Đã và đang hình thành các quần thể du lịch - nghỉ mát - thể thao - leo núi - du thuyền - câu cá - sân golf - nghỉ dưỡng - chữa bệnh, khu vui chơi giải trí. Toàn tỉnh hiện có 112 resort đang hoạt động, 125 cơ sở lưu trú với trên 4.240 phòng nghỉ, trong đó có 57 cơ sở được xếp hạng từ 1 đến 4 sao, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu nghĩ dưỡng và vui chơi giải trí của du khách và các nhà đầu tư. Hàng năm thu hút trên 1,5 triệu khách du lịch.
Bình Thuận đã tiến hành lập qui hoạch và đầu tư cơ sở hạ tầng các cụm du lịch như: Phan Thiết - Mũi Né, Hòm Rơm - Suối Nước, Tiến Thành - Hàm Thuận Nam, Hàm Thuận - Ðami, Hàm Tân, Tuy Phong, Bắc Bình…

2. Thuỷ hải sản:


Bình Thuận có ngư trường rộng 52.000 km2 có trữ lượng hải sản lớn, thuận lợi để nuôi trồng các loại thủy sản như cua, tôm, cá, trai ngọc, rong biển,… Lực lượng tàu thuyền đánh bắt có 6.200 chiếc, tổng công suất 290.000CV, sản lượng khai thác hải sản hàng năm đạt 160.000 tấn. Sản lượng tôm giống (sú) đạt 5,7-6 tỷ post/năm. Đảo Phú Quý (32 km2) là Trung tâm đánh bắt và dịch vụ hỗ trợ đánh bắt xa bờ, đang được đầu tư để trở thành khu kinh tế mở với các chức năng khai thác, chế biến hải sản và cung cấp các dịch vụ biển, dịch vụ hàng hải, dầu khí.
Toàn tỉnh có hơn 100 cơ sở chế biến thuỷ sản. Thủy sản của Bình Thuận đã xuất khẩu vào các thị trường Nhật Bản, Bắc Mỹ, Tây Âu, Hàn Quốc, Singapore, Hồng Kông, Australia,... Có 3 cảng cá Phan Thiết, Tuy Phong và Lagi với quy mô tàu công suất 400 CV. Khu công nghiệp chế biến thuỷ sản Nam Phan Thiết đang được đầu tư, hoàn thiện để thu hút các dự án công nghiệp chế biến thuỷ sản.

3. Nông, lâm nghiệp:


Diện tích đất nông nghiệp 260.000 ha, các cây trồng chính là lương thực (115.000 ha), điều (30.000 ha), cao su (18.000 ha), Thanh Long (10.000 ha), Nho (380 ha), bông vải (3.000 ha)..., thanh long là sản phẩm nổi tiếng, sản lượng năm 2007 đạt 130.000 tấn, có khoảng 20% sản phẩm được xuất khẩu (30.000 tấn). Đàn bò thịt khoảng 160.000 con, heo thịt 260.000 con và các gia súc có sừng khác như dê, cừu; ngoài ra, còn trên 50.000 ha đất nông nghiệp thích hợp trồng các loại cây công nghiệp và các loại cây ăn quả có giá trị. Diện tích rừng tự nhiên 258.000 ha có thể khai thác phục vụ du lịch sinh thái.

4. Công nghiệp:


Đạt mức tăng trưởngbình quân hàng năm 15%; Công nghiệp chế biến xuất khẩu sử dụng nguyên liệu lợi thế của địa phương có xu hướng phát triển nhanh. Một số sản phẩm tăng khá như thuỷ sản chế biến, may mặc, vật liệu xây dựng, nước khoáng, hàng thủ công mỹ nghệ. Một số mặt hàng thủ công mỹ nghệ phục vụ xuất khẩu được khôi phục lại như sản xuất hàng mây tre, lá buông, dừa…
Khu công nghiệp Phan Thiết giai đoạn I (68 ha), đã thu hút 28 dự án đầu tư, trong đó có 17 dự án đã đi vào hoạt động và đang mở rộng giai đoạn II với quy mô 56 ha; đang xây dựng cơ sở hạ tầng Khu công nghiệp Hàm Kiệm (579 ha), đầu tư phát triển một số khu công nghiệp mới: Khu liên hợp công nghiệp dịch vụ dầu khí Sơn Mỹ (4.000 ha), Khu công nghiệp Tân Đức (900 ha).

5. Khoáng sản:


Tài nguyên khoáng sản phong phú và đa dạng, các loại khoáng sản có trữ lượng lớn là: cát thủy tinh, đá Granit, sét Bentonit, nước khoáng, sét làm gạch ngói, Ilmenit -Zicon (TiO2), muối công nghiệp. Dầu khí là nguồn tài nguyên gần bờ biển, có tiềm năng khai thác với các mỏ có trữ lượng lớn và chất lượng tốt như Sử Tử Đen, Trắng, Sư Tử Nâu, Sư Tử Vàng, Rubi.

6. Cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật:


- Hệ thống giao thông Bình Thuận đã được cải tạo đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế. Các tuyến giao thông chính: Quốc lộ 1A, QL55, QL28; Tuyến đường sắt Tp. Hồ Chí Minh – Phan Thiết phục vụ cho vận chuyển hàng hoá và du lịch; Cảng vận tải Phan Thiết (1.000 tấn) và Phú Quý (làm mới) đã được xây dựng, Cảng cá Phan Thiết, Lagi, Phan Rí Cửa, Phú Quý đã được nâng cấp; đang có kế hoạch xây dựng Cảng vận tải tổng hợp Kê Gà, huyện Hàm Thuận Nam (tiếp nhận tàu 70.000 tấn) và Cảng chuyên dùng Vĩnh Tân, huyện Tuy Phong. Dự kiến trong vài năm tới Tỉnh sẽ khôi phục sân bay Phan Thiết và một sân bay mới sẽ được đầu tư xây dựng ở phía Bắc Phan Thiết.
- Hiện nay, Bình Thuận sử dụng nguồn cấp điện từ lưới điện quốc gia. Một số nhà máy thuỷ điện đã được đầu tư và đang hoạt động tại Bình Thuận: Nhà máy thủy điện Hàm Thuận- Đa Mi công suất 475 MW, nhà máy thuỷ điện Đại Ninh công suất 300 MW. Bình Thuận sẽ đầu tư xây dựng 2 Trung tâm năng lượng lớn công suất 8.000MW là Trung tâm nhiệt điện than Sơn Mỹ và Trung tâm nhiệt điện than Vĩnh Tân theo Quyết định của Chính phủ.
- Hệ thống thông tin liên lạc đã được nâng cấp, mở rộng và hiện đại hóa; Mạng điện thoại phủ sóng hầu hết các khu du lịch, khu công nghiệp, khu sản xuất trên địa bàn tỉnh. Đến đầu 2008 số điện thoại trên 100 dân là 45 máy, internet/100 dân là 5,62 thuê bao; tỷ lệ người sử dụng internet 20%.


Vị trí và đặc điểm tự nhiên tỉnh Bình Thuận

1. Vị trí:


Tỉnh Bình Thuận là một tỉnh duyên hải, có toạ độ địa lý:

- Kinh độ: 1070 24’E - 1080 23’E

- Vĩ độ: 10033’N - 11033’N

Đông và Đông Nam giáp biển Đông, Bắc - Tây Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, Đông - Đông Bắc giáp tỉnh Ninh Thuận, Tây - Tây Nam giáp tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Diện tích tự nhiên: 783.000 ha

- Tỉnh Bình Thuận có 01 thành phố, 01 thị xã và 08 huyện bao gồm Thành phố Phan Thiết, thị xã La Gi và các huyện: Tuy Phong, Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam, Hàm Tân, Tánh Linh, Đức Linh và huyện đảo Phú Quý. Bình Thuận có nhiều dân tộc sinh sống: Kinh, Chăm, Hoa, K'Ho, Chơ Ro...

 - Địa hình chia làm 3 vùng: rừng núi, đồng bằng, ven biển. Có nhiều nhánh núi đâm ra biển, tạo nên các mũi La Gàn, Mũi Nhỏ, Mũi Rơm, Kê Gà... Các con sông chảy qua Bình Thuận: La Ngà, sông Quao, sông Công, sông Dinh. Tỉnh có quốc lộ 1A, đường sắt Bắc Nam đi qua, cách thành phố Hồ Chí Minh - một trung tâm văn hóa kinh tế lớn của đất nước, khoảng 200 km.

2. Khí hậu:

Bình Thuận nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa với 2 mùa rõ rệt:

  • Mùa mưa: từ tháng 5 đến tháng 10
  • Mùa khô: từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
  • Nhiệt độ trung bình: 27,0 oC
  • Lượng mưa trung bình năm: 1.024 mm
  • Độ ẩm tương đối: 79%
  • Tổng số giờ nắng: 2.459


3. Bản đồ: