1. Tháp Pôshanư
Nhóm đền tháp Chăm Pôshanư được người Chăm xây
dựng từ những cuối thế kỷ VIII đầu thế kỷ IX để thờ vị thần Shiva - một trong
những vị thần Ấn Độ giáo được sùng bái và tôn kính. Thế kỷ 15, xây dựng thêm một
số đền thờ với kiến trúc đơn giản để thờ công chúa Pôshanư. Công chúa Pôshanư
(con vua ParaChanh) là người có tài đức và phép ứng xử nên được người Chăm
đương thời yêu quý. Năm 1992-1995, những cuộc khai quật khảo cổ tại nơi này đã
phát hiện ra nhiều nền móng của những ngôi đền bị sụp đổ và bị vùi lấp hàng
trăm năm nay, cùng với gạch ngói và một số hiện vật trong lòng các đền tháp có
niên đại từ thế kỷ 15. Từ đây tháp có tên gọi là Pôshanư.
Nhóm tháp này có phong cách kiến trúc Hòa Lai
- một trong những phong cách nghệ thuật cổ của Chămpa. Tuy chỉ có kích thước vừa
và nhỏ, nhưng nó chắt lọc được những tinh hoa kỹ thuật kiến trúc và nghệ thuật
trang trí của người Chăm xưa tạo nên vẻ uy nghiêm và kỳ bí. Nhóm đền tháp
Pôshanư là một trong những cụm tháp Chăm còn tương đối nguyên vẹn.
Nhóm tháp gồm có 3 tháp : Tháp chính A hơi nhếch
về phía Nam, hai tháp phụ là B hơi nhếch về phiá Bắc và C nhếch về hướng Đông cạnh
tháp A. Nội dung của việc xây dựng nhóm tháp trong giai đoạn lịch sử này để thờ
thần Shiva ( một trong những vị thần Ấn độ giáo được người Chăm sùng bái, tôn
kính) biểu hiện bằng bệ thờ Linga-Yôni bằng đá hiện còn lưu giữ tại tháp chính.
Đến thế kỷ XV người Chăm tiếp tục xây dựng một số đền thờ dạng kiến trúc đơn giản
để thờ công chúa Pôshanư, tương truyền là con vua ParaChanh được nhân dân yếu
quý về tài đức và phép ứng xử của Bà đối với người Chăm đương thời. Những cuộc
khai quật khảo cổ học từ 1992-1995 đã phát hiện nhiền nền móng của những ngôi đền
bị sụp đổ và bị vùi lấp hàng trăm năm nay, cùng với gạch ngói và một số hiện vật
trong lòng các đền tháp có niên đại từ thế kỷ XV. Từ đây tháp có tên gọi là
Pôshanư.
Pôshanư là nhòm đền tháp Chăm có vai trò quan
trọng trong số các di tích kiến trúc Chăm ở Bình Thuận, từ hình dạng kiến trúc
đến kỹ thuật xây dựng và trang trí nghệ thuật trên thân tháp, các vòm cuốn, các
cửa chính, cửa giả, trong lòng và lên đến đỉnh tháp. Riêng kỹ thuật xây dựng và
trang trí nghệ thuật còn lại ở thân Tháp đủ gợi lên yếu tố thẩm mỹ khá riêng biệt
của phong cách Hoà Lai.
Tháp chính A từ trong lòng tháp lên đến Đỉnh
15 m, cạnh đáy mỗi bề gần 20m, một cửa chính dài, hướng về phía đông mà theo
truyền thuyết Chăm hướng Đông là nơi cư ngụ của thàn linh. Có 3 cửa giá ở những
hướng Bắc, Tây, Nam. Trên vòm cuốn ở hướng Tây hiện còn những dãy chạm khắc dày
đặc với những bông hoa và hình tượng kỳ lạ. Tháp có 4 tầng càng lên cao càng
thu nhỏ lại và bớt đi những yếu tố kiến trúc của tầng dưới. Trên đỉnh tháp có 4
cửa sổ hình tam giác hướng về 4 phía, bên ngoài xây bít kín, dưới mỗi cửa sổ gạch
có 4 lỗ lớn để thông gió ra ngoài.
Tháp B nằm riêng nhích về hướng Bắc cao khoảng
12m, về cơ bản hình dáng kiến trúc giống tháp A nhưng đơn giản hơn. Trước đây
trong tháp có thờ con bò thần Namdin nhưng sau đó không thấy nữa . Năm 1995 lúc
khai quật dưới lòng đất đã tìm thấy 1 bàn chân và 1 tai bò thần bằng đá. Tháp C
hiện chỉ còn lại với 1 chiều cao hơn 4m, duy nhất 1 cửa trổ về hướng Đông những
kiến trúc và trang trí nghệ thuật bên ngoài đã bị thời gian bào mòn chỉ còn lại
một số đường nét gốc.
So với những tháp Chăm khác, đến nay di tích
này hàng năm vẫn có đông đảo người Chăm từ các vùng lân cận đến làm lễ cầu mưa
và những nghi lễ khác liên quan đến phong tục tập quán của họ,. Một điều khá lý
thú nữa là đối với ngư dân những vùng lân cận trước khi đi biển cũng đến đây cầu
xin cho những chuyến đi biển được bình yên.
Nhóm đền tháp Chăm Pôshanư đã được tu bổ, tôn
tạo từ 1990-2000 và hiện nay đã hoàn chỉnh việc tu bổ di tích. Di tích này đã
được Nhà nước xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia năm 1991.
2. Dinh Vạn Thủy Tú - Phan Thiết
Cuối thế kỷ XVII, những ngư dân lao động của
các tỉnh miền Trung lần lượt đổ bộ lên khai phá vùng đất mới còn lắm hoang vu
Phan Thiết - Bình Thuận. Họ mong tránh cảnh loạn lạc, khốn cùng ở miền quê cũ,
tìm được một chốn an cư lạc nghiệp lâu dài.
Sử sách và dân gian thường gọi là: “Ngũ Quảng
lưu dân” (Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Thuận, Quảng Nam, Quảng Ngãi). Theo truyền
thống ở miền quê cũ, họ lập ra ở ven biển các Vạn nghề cá (Vạn Chài) theo từng
nhóm dân cư tập trung trước khi có chính quyền làng xã. Một trong những vạn
chài ấy có tên Thủy Tú bởi nằm bên cửa biển Phan Thiết trù phú, đẹp giàu (Thủy
là nước, Tú là màu mỡ, nhiều sản vật, Thủy Tú nói lên vùng biển giàu đẹp).
Cùng với lập Vạn ổn định dân cư ăn ở, Vạn nào
cũng xây dinh để thờ thần Nam Hải. Từ xa xưa, theo tín ngưỡng của ngư dân Cá
Voi được tôn làm Ông Nam Hải hay Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân Tôn Thần. Bởi khi trời
giông bão, sóng to gió lớn, Ông đã tựa vào thuyền, che chắn cho thuyền không bị
sóng gió nhận chìm. Khi Ông lụy (chết), làng Vạn làm tang lễ, thờ tự ở Dinh,
như câu hát Bã Trạo truyền từ đời này sang đời khác:
Khôn phò nghĩa khí ai bì
Sống chơi biển Thánh, chết quy non thần.
Dinh Vạn Thủy Tú tọa lạc trên đường Ngư Ông,
thuộc phường Đức Thắng, thành phố Phan Thiết. Con đường ngày nay và bến cá trước
đây mang tên Ngư Ông thể hiện ý nghĩa lịch sử gắn bó giữa Ông Nam Hải với ngư
nghiệp địa phương: niềm tôn kính của ngư dân cũng như niềm tin vào sự phù trợ của
ông Nam Hải. Lịch sử hình thành Vạn Thủy Tú gắn liền với lịch sử hình thành
thành phố Phan Thiết và tỉnh Bình Thuận của lớp ngư dân đầu tiên vào khai phá
xây dựng nên một vùng biển “trên bến dưới thuyền” với ngành nghề truyền đánh bắt
hải sản và chế biến nước mắm truyền thống nổi tiếng xưa nay.
Dinh Vạn Thủy Tú là một trong những Dinh Vạn lớn
và cổ xưa nhất của nghề biển ở Bình Thuận. Dinh được thiết kế từ năm Nhâm Ngọ
(1762) với Chính Điện, nhà Tiền Vãng và phía trước là Võ Ca. Trung tâm Chính Điện
đặt khám thờ Thần Nam Hải. Bên tả khám thờ Ông Thủy (ông tổ nghề biển), bên hữu
thờ Bà Thủy. Phía sau Chánh điện là nhà Tiền Vãng thờ các bậc tiền hiền, hậu hiền
– những người có công khai phá dựng Làng, lập Vạn. Phía trước là nhà Võ Ca, nơi
để hát bội và diễn Bã Trạo trong những kỳ tế lễ. Trong năm Vạn có năm kỳ Lệ
cúng: Lệ Tế Xuân (20.02 ÂL) Lệ Hạ Nghệ (xuống nghề, cầu ngư đầu mùa 20.04.ÂL),
Lệ Tế Thu (còn gọi là Lệ cúng của các chèo dọc 20.07 ÂL) và Lệ Mãn Mùa (25.08
ÂL). Ở mỗi Lệ cúng, bà con tổ chức lễ với những nghi thức cúng tế trang trọng
và hội với hát bội, diễn bã trạo, giao lưu trao đổi công việc làm ăn; ngoài ra
còn tổ chức đua ghe giữa các Vạn, như câu ca xưa còn truyền lại:
Dưới sông sắp đặt ghe đua
Trên bờ sửa soạn Miếu Chùa Trạo ca
Việc thờ tự, cúng tế, Lễ hội ở Vạn hướng con
người về với cội nguồn, với Tổ quốc, với Tổ nghề và thắt chặt tình ái hữu tương
tế.
Về giá trị kiến trúc, Dinh Vạn Thủy Tú sử dụng
lối kiến trúc “Tứ Trụ”. Toàn bộ các vì kèo, rường cột, các gian đều xuất phát từ
đỉnh các tứ trụ; hệ thống kết cấu gỗ đều được chọn các loại gỗ quý, các chi tiết
được lắp ghép trau chuốt, chạm khắc tỉ mỉ. Đến nay so với hàng chục ngôi Vạn thờ
Hải Thần dọc bờ biển Bình Thuận thì Dinh Vạn Thủy Tú có kiến trúc cổ còn giữ
nguyên trạng.Trong Dinh còn lưu giữ 24 sắc phong của các vua Triều Nguyễn; lưu
giữ nhiều di sản văn hóa Hán - Nôm liên quan đến nghề biển, thể hiện trong nội
dung thờ phụng ở các khám tờ, tượng thờ, hoành phi, câu đối trên văn chuông Đại
Hồng Chung…
Ngọc Lân thánh địa và nhà trưng bày bộ cốt ông
Nam Hải
Đến tham quan Dinh Vạn Thủy Tú, qua cổng tam
quan về phía tả là Ngọc Lân Thánh Địa, về phía hữu là nhà trưng bày cốt Ông Nam
Hải, trước khi vào viếng dinh chính.
Theo phong tục tập quán khi phát hiện Ông lụy
làng Vạn phải tổ chức đưa Ông lên bờ và tiến hành nghi thức tang lễ thỉnh linh
hồn Ông nhập Vạn, chọn ngày giờ tốt để mai táng. Trước Dinh Vạn Thủy Tú có một
khu đất rộng để mai táng Ông, gọi là Ngọc Lân Thánh Địa.Sau 3 năm mãn tang, thỉnh
cốt Ông nhập tẩm trong Dinh Vạn. Qua 200 năm, Vạn Thủy Tú đã có 3 tẩm với trên
100 bộ cốt Ông được lưu thờ, trong đó có hàng chục bộ cốt lớn, đặc biệt có một
bộ rất lớn.
Truyền thuyết dân gian kể lại rằng: sau khi
xây xong Dinh Vạn có một Ông lớn trôi dạt vào bờ phía trước Dinh (lúc này biển
chỉ còn cách Dinh không đầy 50 mét). Ngư dân trong bổn Vạn huy động thêm ngư
dân các làng Vạn khác cùng nhau đưa Ông vào táng trong khuôn viên của Dinh Vạn
Thủy Tú. Vì Ông lớn quá (dài hơn 20m, nặng hàng chục tấn) nên mãi hai ngày sau
mới đưa vào mai táng được.
Năm 2003 theo nguyện vọng của bà con ngư dân
và nhu cầu của khách thăm quan, cũng như phục vụ cho công tác nghiên cứu văn
hóa - khoa học, Ủy ban nhân dân thành phố Phan Thiết đã đầu tư xây dựng Nhà
trưng bày và phục chế lắp ráp bộ cốt Ông lớn nhất nhằm giữ gìn và bảo quản tốt
hơn, tạo thuận lợi cho bà con ngư dân đến viếng và khách đến tham quan, các nhà
khoa học đến nghiên cứu.Được sự trợ giúp của Phòng Bảo tồn - Viện Hải Dương học
Nha Trang, công trình đã được khánh thành vào đúng dịp Lễ hội Cầu Ngư đầu mùa
ngày 20.04 năm Quý Mùi (2003). Qua lưu thờ, bảo quản của nhân dân, bộ cốt Ông hầu
như còn nguyên vẹn và được xác định là bộ cốt Ông lớn nhất Việt Nam và cả vùng
Đông Nam Á.
3. Trường Dục Thanh
Dục Thanh (viết tắt của: Giáo Dục Thanh Thiếu
Niên) là một ngôi trường ở thành phố Phan Thiết (tỉnh Bình Thuận) mà Nguyễn Tất
Thành (sau này là Hồ Chí Minh) đã từng dạy học ở đó.
Trường Dục Thanh là một cơ sở của Công ty Liên
Thành - một tổ chức yêu nước nổi tiếng được thành lập hồi đầu thế kỷ 20 gồm ba
bộ phận với ba chức năng:
Liên Thành Thương quán: làm kinh tế gây quỹ hoạt
động
Liên Thành Thư xã: tuyên truyền và truyền bá
các sách báo có nội dung yêu nước
Dục Thanh Học hiệu: mở trường dạy cho con em
người yêu nước và lao động nghèo theo nội dung yêu nước và tiến bộ
Do các nhà chí sĩ Nguyễn Trọng Lội, Nguyễn Quý
Anh (là hai con trai nhà thơ Nguyễn Thông), Trương Gia Mô, Hồ Tá Bang, Nguyễn
Hiệt Chi, Trần Lệ Chất sáng lập ở Phan Thiết, nhằm hưởng ứng phong trào Duy Tân
mà Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng khởi xướng tại Trung Kỳ.
Công ty Liên Thành hoạt động có hiệu quả, bí mật
đóng góp một phần tài chính cho phong trào Đông Du của Phan Bội Châu. Liên
Thành thư xã do Nguyễn Hiệt Chi phụ trách mời nhiều diễn giả đến diễn thuyết,
trong đó có Phan Châu Trinh, gây được tiếng vang sôi nổi. Đặc biệt Dục Thanh học
hiệu đã đào tạo được một lớp trẻ học tập theo sách vở và tinh thần mới.
Trường Dục Thanh được xây dựng năm 1907(cùng
năm xây dựng với trường Đông Kinh Nghĩa Thục) nằm ở làng Thành Đức (ngày nay là
nhà số 39 phố Trưng Nhị, phường Đức Nghĩa, Phan Thiết.
Năm 1910, Nguyễn Tất Thành được ông nghè
Trương Gia Mô giới thiệu, đã đến Phan Thiết dạy học tại ngôi trường này. Lúc ấy,
trường có khoảng 60 học sinh và 7 thầy giáo giảng dạy các bộ môn: Hán văn, Pháp
văn, thể dục... Một trong những học sinh của trường là Nguyễn Kinh Chi con cụ
Nguyễn Hiệt Chi, về sau là Bác sĩ, Thứ trưởng Bộ Y tế Việt Nam dân chủ cộng
hòa, đại biểu Quốc hội khóa I - IV, là học trò trực tiếp của thầy Nguyễn Tất
Thành. Nguyễn Tất Thành dạy lớp nhì, chủ yếu là dạy Chữ Quốc ngữ và Hán văn.
Trong thời gian này, ngoài những nội dung được phân công giảng dạy, Nguyễn Tất
Thành còn truyền bá lòng yêu quê hương đất nước, nòi giống tổ tiên cho học
sinh. Trong những giờ học ngoại khóa hay những lúc rảnh, Nguyễn Tất Thành còn dẫn
học sinh của mình du ngoạn cảnh đẹp ở Phan Thiết như bãi biển Thương Chánh, động
làng Thiềng, Đình làng Đức Nghĩa.
Tháng 2 năm 1911, Nguyễn Tất Thành rời trường
Dục Thanh và Phan Thiết vào Sài Gòn.
Một vài năm sau, ông Nguyễn Trọng Lội qua đời,
ông Nguyễn Quý Anh chuyển vào Sài Gòn, không còn ai phụ trách và vì nhiều lý do
khách quan khác nên trường đóng cửa vào năm 1912, nhưng Công ty Liên Thành thì
vẫn hoạt động mãi đến sau này. Hiện di tích Trường Dục Thanh và Công ty Liên
Thành ở thành phố Phan Thiết đã được tỉnh Bình Thuận tôn tạo, bảo quản giữ gìn,
là một địa điểm văn hóa du lịch của cả nước.
4. Kê Gà - Ngọn hải đăng trăm tuổi
Ngọn hải đăng trăm tuổi trên đảo Kê Gà sừng sững
giữa biển khơi đang là điểm đến hấp dẫn đối với du khách đến Bình Thuận. Đứng
trên ban-công ở đỉnh hải đăng, phong cảnh một vùng biển mở ra trước mắt du
khách đẹp đến sững sờ, bởi hiếm có dịp được “chiêm ngưỡng” vẻ đẹp của biển ở
góc nhìn này...
Từ TP Phan Thiết (Bình Thuận) đi xe gắn máy hoặc
xe buýt dọc theo bờ biển phía Nam khoảng 25 km là đến địa điểm có ngọn hải đăng
trăm tuổi này. Hải đăng Kê Gà (có người gọi Khe Gà) nằm trên hòn đảo nhỏ, cách
bờ biển khoảng 500 mét. Lúc nước ròng, có thể đi bộ ra đảo. Trên bản đồ địa lý
Việt Nam, người Pháp ghi tên đảo là Kéga.
Vùng biển này thường xuyên có tàu thuyền đi
ngang, nhất là tàu buôn nước ngoài. Ở vị trí hiểm trở, nhiều bãi đá ngầm, người
Pháp đã cho xây dựng ngọn hải đăng tại đây để dẫn đường tàu thuyền đánh cá, cảnh
báo nguy hiểm đối với tàu buôn. Kỹ sư người Pháp tên là Chnavat là người thiết
kế công trình này. Khởi công xây dựng vào tháng 2-1897, đến cuối năm 1898 hải
đăng mới hoàn thành và đưa vào hoạt động vào năm 1900- đến nay đã 108 năm.
Tháp hải đăng hình bát giác được xây trên đỉnh
cao nhất của đảo. Tại tháp đèn có những ô cửa kính dày bao bọc 2 bóng đèn có
công suất 2000w, xoay được 360 độ. Nhìn từ xa 10km lúc trời trong, du khách đã
nhìn thấy ngọn hải đăng. Ban đêm, ánh đèn của nó chiếu sáng đến 22 hải lý.
Lối dẫn vào hải đăng là những bậc thang bằng
bê tông, hai bên trồng hàng hoa sứ cổ. Người dân ở đây cho rằng những cây sứ
này được trồng ngay sau khi ngọn hải đăng được dựng lên nên gốc sứ nào cũng to
lớn. Vào bên trong hải đăng, du khách phải bước lên 184 bậc thang xoắn trôn ốc
để lên đỉnh. Tại đây, một ban-công rộng rãi mở ra để du khách đứng nhìn biển
xanh bao la. Những khu nghỉ dưỡng, bãi đá, bờ biển... trải dài hàng chục cây số
đều được thu gọn vào tầm mắt. Những mệt mỏi sau khi đi bộ lên các bậc thang cao
54 mét sẽ được xua tan bởi cảnh đẹp của thiên nhiên và làn gió biển mát rượi
khiến du khách cảm thấy phấn chấn. Thời điểm lý tưởng nhất trong ngày để lên đỉnh
Kê Gà là lúc hoàng hôn. Nhưng những người mê biển thì sẽ ở lại đảo qua đêm để
câu cá, ngắm ánh trăng vằng vặc vào ban đêm bên ngọn lửa hồng và ngắm nhìn bình
minh hùng vĩ hiện dần trên mặt biển...
Dù đã có từ rất lâu nhưng hải đăng Kê Gà chưa
được nhiều người biết đến. Phần lớn du khách đến Phan Thiết đi thẳng ra Mũi Né
nhưng từ khi Mũi Né bị bao vây bởi hệ thống các khu nghỉ dưỡng, nhà hàng, khách
sạn thì những người yêu thiên nhiên miền biển đi tìm những điểm dừng chân mới.
Cuộc đổ bộ của du khách và nhà đầu tư vào phía Nam Phan Thiết bắt đầu từ đó.
Nơi đâu, những khu nghỉ dưỡng cũng đã mọc lên nhưng có kiến trúc rất tôn trọng
thiên nhiên, tạo nên sự hài hòa giữa người và biển.
Việc đưa người ra ngọn hải đăng tham quan hiện
nay chưa nằm trong tua tuyến mà chủ yếu do người dân địa phương làm theo kiểu tự
phát. Lên xuống tàu để ra hải đăng và trở lại đất liền không được thuận tiện,
nhất là đối với người lớn tuổi. Hai đầu bến vẫn chưa có cầu tàu. Du khách phải
xắn quần lội nước để leo lên tàu... Hy vọng một ngày gần đây, ngành du lịch
Bình Thuận sẽ đưa đảo Kê Gà vào danh sách điểm du lịch tạo điều kiện cho du
khách muốn khám phá ngọn hải đăng trăm tuổi...
Sở VHTTDL Bình Thuận
Nguồn: http://vhttdlkv3.gov.vn/




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét